Print this Trang

CÔNG DỤNG TỎI ĐEN

Công dụng của tỏi đen là rất nhiều, hiện tại các công dụng của tỏi đen dù đã được biết đến hay chưa được khám phá vẫn đang được các nhà khoa học tại nhiều quốc gia trong đó có Việt nam tiếp tục nghiên cứu và phát triển.

Dưới đây là những công dụng đã được biết đến của tỏi đen do nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học tại Nhật Bản, Hàn Quốc công bố.

 

1. Tỏi đen- Hỗ trợ ức chế sự hình thành và phát triển khối u.
Các nghiên cứu về tác dụng sinh học của tỏi đen tại đại học quốc gia Pusan, Hàn Quốc cho thấy: Các hợp chất sulfur hữu cơ, dẫn chất của tetrahydro carboline được hình thành từ quá trình lên men có hoạt tính mạnh dọn gốc tự do và ức chế quá trình peroxy hóa lipid cao hơn tỏi thường. Thêm vào đó dịch chiết tỏi đen có hiệu lực mạnh kháng lại các tế bào khối u do vậy có tác dụng phòng và hỗ trợ điều trị ung thư. Cơ chế tác dụng của tỏi đen không phải bằng cách trực tiếp gây độc tế bào mà thông qua con đường kích thích đáp ứng miễn dịch, loại trừ khả năng di căn của các tế bào khối u. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỏi đen giàu S-allyl-L-cysteine (SAC) làm giảm sự phát sinh của khối u ruột kết và các tụ điểm ẩn khác thường, những dấu hiệu lâm sàng sớm nhất của ung thư ruột kết và tỏi đen có hiệu lực hóa liệu dự phòng đối với các tác nhân gây ung thư bằng cách ức chế sự nhân lên của tế bào khối u.

 

2. Tỏi đen – Tăng hiệu quả điều trị và giảm tác dụng không mong muốn của các liệu pháp xạ trị và hóa trị trên bệnh nhân ung thư.

Cisplatin (CP) là một trong những thuốc có tác dụng gây độc tế bào mạnh nhất. Tuy nhiên nó có một số tác dụng không mong muốn có liên quan tới là tăng stress oxy hóa. Một nghiên cứu tại khoa dược đại học Zagazig, Hy Lạp chỉ ra rằng: Chuột được sử dụng tỏi đen trong 21 ngày cho thấy sự giảm rõ rệt nồng độ huyết thanh của AST, ALT và TSB và tăng nồng độ albumin huyết thanh gây ra bởi việc sử dụng Ciplastin. Thêm vào đó, sử dụng tỏi đen cũng cải thiện rõ rệt sự tăng nồng độ MDA (malondialdehyde) và sự giảm nồng độ GSH (glutathione), cũng như hoạt động của CAT (catalase) và SOD (superoxide dismutase) gây ra bởi CP trong mẫu mô gan đồng nhất. Thêm vào đó, thử nghiệm máu và mô học cho thấy sự cải thiện rõ rệt về độc tính gây ra bởi CP trên các thong số tế bào máu và cấu trúc gan. Kết quả này chứng minh rằng tỏi đen có tác dụng bảo vệ và chống oxy hóa trên stress oxi hóa gây ra bởi CP và làm thay đổi các thông số máu và cấu trúc gan ở chuột. Do đó, nó có thể được sử dụng như một thực phẩm chức năng để làm giảm tác dụng gây

độc của thuốc chống ung thư.

Tỏi đen

         Tỏi đen nhiều nhánh

 

3. Tỏi đen – Tăng cường hệ miễn dịch, tăng sức đề kháng của cơ thể, giúp phòng chống bệnh tật.

Tỏi đen (Allium sativum) được tạo ra từ tỏi tươi bằng quá trình lão hóa trong phòng kiểm soát nhiệt độ 65-80oC và độ ẩm 70-80% trong vòng 1 tháng. Dịch chiết nóng của tỏi đen được làm giàu S-allyl-L-cysteine (SAC) và đã cho tác dụng chống ung thư với tỉ lệ cứu sống 50% chuột BALB/c bị sarcoma xơ; tuy nhiên cơ chế của nó vẫn chưa được làm rõ. Các thí nghiệm được tiến hành để xác định cơ chế chống ung thư sử dụng hệ thống nuôi cấy tế bào lá lách thu được từ chuột cho uống dịch chiết tỏi đen. Dịch chiết tỏi đen đã cải thiện miễn dịch tế bào thông qua làm tăng hoạt tính tế bào NK (tế bào diệt theo cơ chế tự nhiên), loại tế bào được cho là là đóng vai trò thiết yếu trong việc tiêu diệt hoàn toàn của tế bào ung thư in vivo. Các cytokine khác như NO (nitric oxide), IFN-γ (interferon-γ), IL-2 (interleukin-2), và TNF-α (tumor necrosis factor-α) cũng được tạo ra nhiều hơn trong tế bào lá lách của chuột cho sử dụng dịch chiết, tuy nhiên lượng IL-4 (interleukin-4), chất được cho là có liên quan tới miễn dịch thể dịch (đóng vai trò trong sản xuất kháng thể như IgG và IgE) lại giảm trong váng nhân lên của tế bào lá lách.


4. Tỏi đen – Phòng ngừa và hỗ trợ điều trị tăng huyết áp và các bệnh về tim mạch.

Tỏi đen là một sản phẩm mới của Tỏi có tác dụng ngăn cản gốc tự do mạnh. Trong 1 nghiên tại đại học Akita, Nhật Bản chứng minh: Việc sử dụng tỏi đen trong 14 ngày làm giảm huyết áp rõ rệt (Với tỉ lệ 34.6%), trong khi nó không có tác dụng trên huyết áp thông thường. Nghiên cứu cũng chỉ ra, tỏi đen có tác dụng chống tăng huyết áp tốt hơn tỏi tươi. Cơ chế của việc chống tăng huyết áp tiềm tàng thông qua ngăn cản sự tăng các gốc tự do trong huyết tương.

 

5. Tỏi đen – Phòng ngừa và hỗ trợ điều trị hội chứng tăng đường huyết, hỗ trợ điều trị các biến chứng của bệnh đái tháo đường.

Theo một nghiên cứu tại trường đại học Shaqra, Arập công bố: Sử dụng tỏi đen trong 7 tuần giúp giảm nồng độ đường trong huyết thanh và lượng hemoglobin đã đường hóa trong máu rõ rệt. Nồng độ Insulin tăng rõ rệt ở nhóm dùng tỏi so với nhóm chứng. Dịch chiết của tỏi giảm rõ rệt nồng độ cholesterol tổng trong khi dịch chiết tỏi giảm rõ rệt cả nồng độ cholesterol tổng và triglyceride trong huyết thanh đồng thời làm tăng lượng HDL-cholesterol. Các kết quả gợi ý rằng tỏi có dụng hạ đường huyết và cholesterrol máu còn tỏi đen thì có tác dụng cải thiện tính nhạy với insulin và rối loạn lipid máu.

Theo một nghiên cứu khác của các nhà khoa học thuộc đại học quốc gia Kyungpook, Hàn Quốc chỉ ra rằng: Sử dụng Tỏi đen đen trong 7 tuần thấy giảm rõ rệt nồng độ thành phần hoạt tính acid thiobarbituric ở gan so với việc sử dụng tỏi thường. Hoạt động của nhóm superoxide dismutase (SOD) và glutathione peroxidase (GSH-Px) của nhóm dùng tỏi đen tăng rõ rệt so với nhóm không dùng tỏi đen. Các kết quả này chỉ ra rằng tỏi đen có tác dụng chống oxy hóa mạnh hơn tỏi thường in vitro và in vivo, và gợi ý rằng tỏi đen có thể là nguồn nguyên liệu hữu ích để ngăn chặn các biến chứng do đái tháo đường.

 

                                             Tỏi đen một nhánh Phúc Lộc

6. Tỏi đen – Bảo vệ và cải thiện chức năng gan.

Nghiên cứu của các nhà khoa học đại học dược Chungbuk, Hàn Quốc đánh giá hiệu quả bảo vệ gan của tỏi đen trên mô hình gây tổn thương gan bằng CCl­4 (Carbon tetrechloride) và bằng D-galactosamine cho thấy: Tỏi đen ức chế việc gây tăng cao men gan (AST và ALT). Nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá hiệu quả cảu tỏi đen lên chế độ ăn uống nhiều chất béo – gây ra gan nhiễm mỡ và tổn thương gan sau này. Chế độ ăn nhiều béo gây tăng AST và ALT, nhưng không làm tưng ALP, được giảm đáng kể bằng việc điều trị ABG. Kết quả này chứng minh rằng ABG có hiệu quả bảo vệ gan và đề nghị bổ sung ABG có thể là một hỗ trợ điều trị tốt cho các tổn thương ở gan.

 

 

Permanent link to this article: http://www.toidenphucloc.vn/cong-dung-toi-den/